Tinh dầu húng quế được chưng cất từ cây Ocimum basilicum trồng tại Việt Nam. Khác basil châu Âu giàu linalool, húng quế Việt chứa khoảng 74–92% methyl chavicol (estragole), mùi thảo mộc ngọt, phảng phất hồi. Húng quế là vị thuốc dân gian chữa cảm, đầy hơi; tinh dầu còn dùng xua muỗi, xông phòng, làm hương liệu.

Húng quế (rau quế) là loại rau thơm quen thuộc ăn kèm phở, bún, gỏi. Chưng cất phần cây trên mặt đất khi ra hoa cho tinh dầu không màu đến vàng nhạt. Dầu có mùi thảo mộc ngọt, nốt hồi rõ, giống mùi lá húng quế khi vò.
Cùng một loài Ocimum basilicum nhưng có nhiều kiểu hóa học: basil Ý (sweet basil) dùng làm sốt pesto, giàu linalool, mùi hoa dịu. Húng quế Việt Nam và Thái Lan giàu methyl chavicol, mùi hồi – cam thảo.
Vì vậy tinh dầu húng quế Việt được bán quốc tế với tên “basil oil, methyl chavicol type”.
Húng quế là cây thân thảo cao 40–80 cm, thân vuông thường có màu tím, lá xanh bóng, mép hơi răng cưa. Hoa nhỏ màu tím hoặc trắng mọc thành bông ở ngọn. Cây ưa nắng, nóng, đất tơi xốp, thoát nước; trồng bằng hạt hoặc giâm cành, sau vài tháng đã cho thu hoạch.
Húng quế được trồng khắp Việt Nam, từ vườn nhà đến các vùng rau chuyên canh. Các mẫu nghiên cứu tinh dầu đã được thu ở Thái Nguyên, Thanh Hóa, Đắk Lắk. Ở vùng nóng, cây cho 3–5 lứa mỗi năm.
Húng quế có mặt trong đĩa rau sống của nhiều món nước miền Nam và trong tô phở miền Bắc. Hạt húng quế (hạt é) ngâm nở làm nước giải khát mùa hè.
Dân gian còn dùng lá húng quế nấu nước xông khi cảm, giã lá đắp chỗ côn trùng cắn. Nhiều gia đình trồng một chậu húng quế ở cửa sổ để bớt muỗi, ruồi.
Húng quế vị cay, tính ấm. Y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian dùng để:
Thông tin tham khảo, không thay thế tư vấn của bác sĩ.
Methyl chavicol, còn gọi là estragole, là chất thơm chính của húng quế Việt và ngải thơm (tarragon). Hồi, tiểu hồi cũng có một lượng nhỏ. Chất này cho mùi ngọt kiểu hồi – cam thảo, dùng trong hương liệu thực phẩm và sản phẩm răng miệng.
Ở liều rất cao, kéo dài, estragole gây ung thư gan trên chuột thí nghiệm. Vì vậy EU và một số thị trường giới hạn lượng estragole trong thực phẩm.
Với người dùng tại nhà, không nên uống tinh dầu húng quế hay tự pha vào đồ ăn. Cũng không nên dùng để bôi, massage. Cách dùng phù hợp là xông, lau nhà, xịt phòng xua muỗi.
| Ngành | Ứng dụng |
|---|---|
| Hương liệu | Tạo hương thảo mộc (theo giới hạn từng thị trường) |
| Răng miệng | Phối hương kem đánh răng, nước súc miệng |
| Gia dụng | Xông phòng, nến thơm, sản phẩm xua muỗi |
Húng quế Việt có mùi thảo mộc ngọt, hồi nhẹ, tươi — gợi mùi rau thơm và bếp Việt.

Pha 100 ml nước cất, 10 ml cồn 70 độ, 8 giọt húng quế, 8 giọt sả Java, 4 giọt màng tang. Lắc đều trước khi dùng. Xịt lên rèm cửa, gầm bàn, góc phòng lúc chiều tối.
Không xịt trực tiếp lên da, mặt, không xịt vào đồ ăn. Dùng hết trong 1–2 tuần, để nơi mát.
| Tiêu chí | Húng quế Việt | Basil Ý (sweet basil) |
|---|---|---|
| Thành phần chính | Methyl chavicol | Linalool |
| Mùi | Ngọt, hồi, cam thảo | Hoa, dịu, hơi đinh hương |
| Dùng trong bếp | Rau sống, phở, bún | Sốt pesto, pizza |
| Tên tinh dầu trên thị trường | Basil oil, methyl chavicol type | Sweet basil oil, linalool type |
Chỉ tiêu chính là methyl chavicol. Các mẫu Việt Nam ghi nhận từ khoảng 74% (Đắk Lắk) đến 92% (Thanh Hóa). Đỗ Tất Lợi ghi cây chứa khoảng 0,4–0,8% tinh dầu.
Mỗi lô có COA ghi rõ kiểu hóa học và MSDS.
Số liệu tham khảo; chỉ tiêu thực tế theo COA từng lô.
Húng quế trồng phổ biến khắp nơi (Thái Nguyên, Thanh Hóa, Đắk Lắk…), quay vòng nhanh. Công ty liên kết với hộ và HTX trồng chuyên để cất tinh dầu.
Xem thêm tại trang Thu mua nguyên liệu.
| Tiêu chí | Trồng làm rau | Trồng lấy tinh dầu |
|---|---|---|
| Thời điểm cắt | Khi lá non, chưa ra hoa | Khi cây ra hoa rộ |
| Mật độ | Dày, cắt ngọn liên tục | Thưa hơn để cây phân cành, ra hoa |
| Cách bán | Bó rau tươi, bán chợ hằng ngày | Cả cây, phơi héo, bán theo tấn |
| Ưu điểm | Giá theo bó, quay vòng nhanh | Ít phụ thuộc giá chợ, có hợp đồng thu mua |
Hộ trồng rau có thể dành một phần diện tích trồng theo kiểu lấy tinh dầu. Cách này cho thêm đầu ra ổn định, nhất là khi giá rau xuống thấp. Bã cây sau khi cất có thể ủ làm phân bón lại cho ruộng.
Hai kiểu hóa học khác nhau: húng quế Việt giàu methyl chavicol nên phảng phất hồi; basil Ý giàu linalool nên mùi hoa hơn.
Trong thử nghiệm, tinh dầu húng quế có tác dụng xua muỗi. Phối với sả Java cho mùi dễ chịu hơn; tác dụng ngắn nên cần xông lại sau vài giờ.
Tên khác của methyl chavicol, chất thơm chính của húng quế và ngải thơm. Một số nước giới hạn chất này trong thực phẩm.
Không dùng để cất. Hạt é dùng làm đồ uống, tinh dầu cất từ thân, lá và hoa.
Mùi lá có thể làm muỗi, ruồi bớt lại gần cửa sổ, nhưng tác dụng nhẹ hơn nhiều so với tinh dầu.
Không nên xông tinh dầu nồng độ cao gần chó, mèo. Nhiều loại tinh dầu gây khó chịu hoặc độc với vật nuôi, nhất là mèo.
Có, nếu cây đã ra hoa và đủ khối lượng cho một chuyến thu gom.
Đọc thêm: Tinh dầu hương nhu trắng Tinh dầu sả Java Tinh dầu màng tang Tinh dầu thảo mộc Việt Nam
Bạn có nguyên liệu húng quế hoặc muốn liên kết trồng?
Thảo Dược Xanh thu mua nguyên liệu và hỗ trợ kỹ thuật cho nông hộ, HTX.
Tài liệu tham khảo: Cây húng quế – Đỗ Tất Lợi · PROSEA – Ocimum basilicum