Tinh dầu ngải cứu được chưng cất hơi nước từ lá và ngọn cây Artemisia vulgaris. Thành phần chính gồm 1,8-cineole, camphor, borneol và thujone; tỷ lệ thay đổi nhiều theo vùng trồng và mùa thu hái.
Đây là tinh dầu cần dùng thận trọng nhất trong nhóm thảo mộc vì có thujone. Chỉ dùng liều rất thấp, không dùng cho thai phụ, mẹ cho con bú, trẻ em và người động kinh.

Ngải cứu (ngải diệp) là cây thân thảo họ Cúc, quen thuộc trong vườn nhà và chợ rau Việt Nam. Lá vò ra có mùi hăng, đắng, hơi giống long não. Chưng cất lá và ngọn bằng hơi nước cho một lượng nhỏ tinh dầu màu vàng nhạt đến vàng lục.
Tinh dầu mang mùi thảo mộc ấm, hăng, có nốt mát của cineole và camphor. Trên thị trường quốc tế, dầu có tên “mugwort oil”. Vì thành phần thay đổi theo vùng, mỗi lô cần có sắc ký đồ riêng.
Theo Đỗ Tất Lợi, ngải cứu là cây cỏ sống lâu năm, cao khoảng 0,5–0,6 m, thân có rãnh dọc. Lá mọc so le, xẻ thùy lông chim; mặt trên xanh sẫm, mặt dưới trắng xám vì có nhiều lông mịn. Hoa nhỏ, mọc thành chùm.
Ngải cứu mọc hoang ở nhiều nơi trong nước, cũng có ở nhiều nước châu Á và châu Âu. Ở Việt Nam, cây chủ yếu được trồng làm rau quanh nhà và ở các vùng rau ven đô.
Cũng có nơi trồng thành ruộng. Năm 2022, HTX Phong Hòa (vùng Hoa Lư, Ninh Bình) trồng 2 ha ngải cứu, thu hoạch quanh năm và bán theo hợp đồng bao tiêu.
Người Việt biết ngải cứu trước hết như một loại rau: trứng rán ngải cứu, gà hầm ngải cứu, canh ngải cứu. Đỗ Tất Lợi ghi lá thường được hái vào khoảng tháng 6, gần Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch).
Đây cũng là dịp nhiều nhà hái lá ngải phơi khô để dành.
Lá khô tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng gọi là ngải nhung. Ngải nhung dùng làm mồi cứu (moxa) trong châm cứu.
| Tiêu chí | Tinh dầu ngải cứu | Ngải cứu làm rau, ngải nhung | Thanh hao hoa vàng |
|---|---|---|---|
| Loài | Artemisia vulgaris | Artemisia vulgaris | Artemisia annua |
| Dạng dùng | Tinh dầu cất hơi nước, rất đậm đặc | Lá tươi nấu ăn; lá khô, ngải nhung làm mồi cứu | Lá, ngọn |
| Điểm chính | Chứa thujone, camphor; chỉ dùng ngoài, liều thấp | Dùng theo lượng của món ăn, bài thuốc | Nguồn artemisinin, khác hẳn ngải cứu |
| Nhầm lẫn thường gặp | Nghĩ “rau ăn được thì dầu cũng an toàn” | — | Gọi chung là “ngải” |
Ăn rau ngải cứu hay dùng ngải nhung không giống dùng tinh dầu. Tinh dầu cô đặc các chất bay hơi, trong đó có thujone, nên phải theo liều riêng.
Theo Đỗ Tất Lợi, ngải cứu vị cay, tính hơi ôn. Y học cổ truyền dùng lá ngải cứu (dạng sắc, hãm) để:
Ngải nhung dùng làm mồi cứu: đốt trên huyệt, thường lót lát gừng để tránh bỏng. Các cách dùng này là của lá và ngải nhung, không áp dụng cho tinh dầu.
Thông tin tham khảo, không thay thế tư vấn của bác sĩ.
| Ngành | Ứng dụng |
|---|---|
| Nước hoa | Nốt thảo mộc xanh, hăng (liều rất thấp) |
| Gia dụng | Thành phần phụ trong sản phẩm xua côn trùng, túi thơm |
| Mỹ phẩm | Rất hạn chế, vì giới hạn thujone |
Ngải cứu có mùi đắng, hăng, xanh, hơi long não. Trong hỗn hợp, chỉ cần một lượng rất nhỏ để tạo nốt thảo mộc “đồng quê”.

Lá ngải cứu chứa rất ít tinh dầu. Một nghiên cứu ở Brazil thu khoảng 0,5% tinh dầu từ lá khô. Lá tươi nhiều nước nên tỷ lệ tính theo lá tươi còn thấp hơn.
Cộng thêm việc mỗi lô đều phải kiểm nghiệm, đó là lý do tinh dầu ngải cứu có giá cao hơn nhiều loại dầu thảo mộc thông dụng.
Các nghiên cứu cho thấy ngải cứu ở mỗi vùng cho dầu khác nhau. Dầu từ Ý giàu camphor; từ Đức giàu sabinene, myrcene, 1,8-cineole; từ Maroc giàu camphor và thujone.
Đỗ Tất Lợi ghi tinh dầu ngải cứu Việt Nam có thành phần chủ yếu là cineol và α-thujon. Vì vậy công ty kiểm nghiệm từng lô và ghi rõ hàm lượng thujone trên COA.
Chỉ tiêu chính là sắc ký đồ: 1,8-cineole, camphor, borneol, thujone (α và β). Cùng với tỷ trọng, chỉ số khúc xạ, hàm lượng thujone quyết định lô dầu dùng được cho ứng dụng nào. Mỗi lô có COA và MSDS.
Số liệu tham khảo; chỉ tiêu thực tế theo COA từng lô.
Công ty mua lá và ngọn ngải cứu để cất tinh dầu. Nhận cả ngải cứu trồng làm rau và ngải mọc hoang, miễn đúng loài. Vùng ưu tiên:
Yêu cầu nguyên liệu:
Ngải cứu trồng một lần cắt nhiều lứa. Đỗ Tất Lợi ghi lá thường được hái vào khoảng tháng 6. Tỷ lệ dầu thấp, khoảng 0,5% tính theo lá khô ở nghiên cứu tham khảo; công ty báo kết quả sau khi thử mẫu. Xem thêm tại trang Thu mua nguyên liệu.
Không giống nhau. Tinh dầu cô đặc thujone, nên chỉ dùng ngoài, liều rất thấp và tránh các nhóm nhạy cảm.
Không. Thai phụ và mẹ cho con bú không dùng tinh dầu ngải cứu dưới mọi hình thức.
Một số hoạt chất trong ngải cứu xua muỗi trong thí nghiệm. Ở nhà nên phối 1–2 giọt với sả Java thay vì dùng nhiều.
Không nên. Tinh dầu dễ cháy và gây bỏng; mồi cứu dùng ngải nhung khô.
Được. Liên hệ báo diện tích, số lứa và gửi mẫu để công ty thử dầu trước.
Đọc thêm: Tinh dầu mùi già Tinh dầu hương nhu trắng Tinh dầu long não Tinh dầu thảo mộc Việt Nam
Bài hướng dẫn: Cách dùng tinh dầu ngải cứu: xoa bóp, ngâm chân, xông Thujone trong ngải cứu: ai không nên dùng tinh dầu ngải cứu? Trồng ngải cứu lấy nguyên liệu cất tinh dầu
Mua lẻ: Tinh dầu ngải cứu chai thủy tinh 10 ml — xem trang sản phẩm.
Bạn có nguyên liệu ngải cứu hoặc muốn liên kết trồng?
Thảo Dược Xanh thu mua nguyên liệu và hỗ trợ kỹ thuật cho nông hộ, HTX.
Tài liệu tham khảo: Cây ngải cứu – Đỗ Tất Lợi · Tinh dầu Artemisia vulgaris trồng ở Brazil (Pharmaceuticals, 2019) · EMA: Public statement on thujone (2012)