Tinh dầu tràm trà (tea tree oil) được chưng cất từ lá và cành non cây Melaleuca alternifolia, gốc ở Úc. Thành phần chính là terpinen-4-ol, khoảng 35–48% theo tiêu chuẩn ISO 4730.
Tràm trà khác với cây tràm gió bản địa Việt Nam và tràm 5 gân: dầu tràm trà ít cineole, mùi thuốc – gỗ tươi, chủ yếu dùng cho sản phẩm chăm sóc da, làm sạch.

Tràm trà là cây bụi họ Sim (Myrtaceae), cùng chi Melaleuca với cây tràm quen thuộc ở Việt Nam. Tên “tea tree” (cây trà) có thể bắt nguồn từ mô tả của thuyền trưởng James Cook về một loại cây bụi dùng pha thay trà.
Tinh dầu thu được bằng chưng cất hơi nước lá và cành non.
Dầu không màu đến vàng nhạt, mùi thơm hăng kiểu thuốc, pha chút gỗ tươi và cay nhẹ. Tinh dầu tràm trà được sản xuất thương mại từ thập niên 1920 ở Úc. Ngày nay dầu được bán nguyên chất hoặc làm thành phần trong dầu gội, sữa rửa mặt, kem bôi.
Ở Việt Nam, chữ “tràm” dùng chung cho nhiều loài. Ba loại hay bị nhầm nhất là:
Tràm trà là cây bụi hoặc gỗ nhỏ cao tới khoảng 7 m, vỏ trắng xốp như giấy, lá hẹp dài 1–3,5 cm, rộng chỉ khoảng 1 mm. Hoa trắng mọc thành cụm dạng bàn chải.
Cây là đặc hữu của Úc, mọc tự nhiên ven suối, vùng đầm lầy ở đông nam Queensland và bờ biển phía bắc New South Wales. Đây là nguồn chính của tinh dầu tràm trà thương mại.
Ở Việt Nam, tràm trà được nhập giống từ Úc để khảo nghiệm. Theo Lê Đình Khả và cộng sự (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2018), các giống tràm trà giàu terpinen-4-ol được trồng thử ở Ba Vì (Hà Nội) và Phú Lộc (TP Huế).
Tại Ba Vì, lá tươi một số dòng vô tính cho 3,06–3,87% tinh dầu, terpinen-4-ol 40–43%.
Cũng theo nghiên cứu này, tràm trà trồng ở Phú Lộc có tỷ lệ sống thấp và sinh trưởng chậm hơn ở Ba Vì. Nghĩa là không phải vùng nào cũng hợp; cần chọn giống và lập địa kỹ.
Tràm trà là cây nhập nội nên không có trong sách thuốc cổ truyền Việt Nam. Đỗ Tất Lợi chỉ ghi cây tràm bản địa (tràm gió): lá và tinh dầu dùng chữa ho, cảm, xông, xoa bóp khi đau nhức.
Thông tin tham khảo, không thay thế tư vấn của bác sĩ.
Tiêu chuẩn quốc tế ISO 4730 gọi tinh dầu tràm trà là “dầu Melaleuca, kiểu terpinen-4-ol”. Dầu đạt chuẩn phải có terpinen-4-ol 35–48% và 1,8-cineole không quá 10% (bản 2017). Người mua thường chọn dầu nhiều terpinen-4-ol, ít cineole.
Cineole cao làm dầu có mùi hăng kiểu khuynh diệp, không còn đúng “kiểu terpinen-4-ol” mà thị trường mua. Theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Dược liệu (2003), tràm trà trồng từ hạt ở Việt Nam tách thành nhiều kiểu hoá học. Có cây giàu terpinen-4-ol, có cây lại giàu cineole hay terpinolene.
Vì vậy, vườn tràm trà muốn cho dầu đạt chuẩn cần trồng từ giống, dòng vô tính đã chọn lọc, không trồng đại trà từ hạt không rõ nguồn.
| Tiêu chí | Tràm trà | Tràm gió (cajuput) | Tràm 5 gân (niaouli) | Khuynh diệp |
|---|---|---|---|---|
| Tên khoa học | M. alternifolia | M. cajuputi | M. quinquenervia | Eucalyptus globulus |
| Nguồn gốc | Úc, nhập nội | Bản địa Việt Nam | Úc, New Caledonia; nhập nội | Úc; trồng nhiều nước |
| Thành phần chính | Terpinen-4-ol 35–48% | 1,8-cineole, biến động lớn | 1,8-cineole; α-terpineol, viridiflorol | 1,8-cineole ≥70% (ISO 770) |
| Mùi | Thuốc, gỗ tươi | Hăng, the ấm | Hăng, mát, ngọt nhẹ | Hăng, mát mạnh |
| Dùng nhiều cho | Chăm sóc da, làm sạch | Xông, xoa ấm | Xông, xoa, mỹ phẩm | Xông, xoa, dầu gió |
| Ngành | Ứng dụng |
|---|---|
| Mỹ phẩm | Sữa rửa mặt, gel chấm mụn, dầu gội, xà phòng |
| Vệ sinh cá nhân | Khử mùi chân, nước rửa tay, xà phòng |
| Gia dụng | Nước lau bề mặt, xịt khử mùi |

Chỉ tiêu chính là sắc ký đồ theo ISO 4730: terpinen-4-ol, γ-terpinene, α-terpinene, 1,8-cineole và một số chất phụ. Mỗi lô có COA và MSDS.
Số liệu tham khảo; chỉ tiêu thực tế theo COA từng lô.
Công ty mua lá và cành non tràm trà tươi để chưng cất. Vì tràm trà ở Việt Nam mới chủ yếu ở quy mô khảo nghiệm và mô hình nhỏ, công ty ưu tiên các vườn đã trồng từ giống rõ nguồn gốc.
Yêu cầu nguyên liệu:
Vùng quan tâm: các mô hình khảo nghiệm, trồng thử ở miền Bắc và miền Trung. Thời điểm và chu kỳ cắt thống nhất khi ký kết, tuỳ tuổi cây và vùng trồng.
Theo khảo nghiệm ở Ba Vì và Phú Lộc, lá tươi các giống chọn lọc cho khoảng 2,6–4% tinh dầu. Hộ hoặc HTX có vườn tràm trà nên gửi mẫu lá trước để công ty cất thử và phân tích thành phần. Xem thêm tại trang Thu mua nguyên liệu.
Không. Dầu tràm Huế cất từ cây tràm gió bản địa, giàu cineole; dầu tràm trà cất từ Melaleuca alternifolia, giàu terpinen-4-ol.
Không nên. Tràm trà không dùng cho trẻ nhỏ; với trẻ em, hỏi bác sĩ trước khi dùng bất kỳ tinh dầu nào.
Có một số nghiên cứu cho kết quả tích cực nhưng bằng chứng còn hạn chế. Nếu dùng, pha loãng vào sản phẩm rửa mặt và ngưng khi da kích ứng.
Không nên. Dầu nguyên chất dễ gây kích ứng, dị ứng da; luôn pha loãng 1–2%.
Có, ở quy mô khảo nghiệm và mô hình, ví dụ tại Ba Vì (Hà Nội), Phú Lộc (TP Huế). Diện tích trồng thương mại còn nhỏ.
Gửi mẫu lá hoặc nhắn Zalo, báo diện tích, tuổi cây và nguồn giống để công ty cất thử và trao đổi lịch cắt.
Đọc thêm: Tinh dầu tràm 5 gân Tinh dầu long não Tinh dầu bạc hà á Tinh dầu thảo mộc Việt Nam
Bài hướng dẫn: Cách dùng tinh dầu tràm trà cho da mụn: pha loãng đúng tỷ lệ Tinh dầu tràm trà bị oxy hoá: dấu hiệu và cách bảo quản Tinh dầu tràm trà và dầu tràm (tràm gió): khác nhau thế nào, dùng cho ai? Tự làm xịt khử mùi giày và nước rửa tay với tinh dầu tràm trà
Mua lẻ: Tinh dầu tràm trà chai thủy tinh 10 ml — xem trang sản phẩm.
Bạn có nguyên liệu tràm trà hoặc muốn liên kết trồng?
Thảo Dược Xanh thu mua nguyên liệu và hỗ trợ kỹ thuật cho nông hộ, HTX.
Tài liệu tham khảo: Giống tràm trà giàu terpinen-4-ol tại miền Bắc (Tạp chí KH&CN Việt Nam, 2018) · ISO 4730:2017 – Tinh dầu tràm trà kiểu terpinen-4-ol · Cây tràm và tinh dầu tràm – Đỗ Tất Lợi